25/7/16

Đơn vị trúng thầu thi công Bến cá Tân Phụng

   Ngày 02/06/2016, trang web của Ban Quản lý dự án “Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững” (crsd.vn) có ra thông báo các đơn vị trúng thầu công trình Bến cá Tân Phụng như sau: 
   Căn cứ Quyết định số 1432/QĐ-SNN ngày 12/5/2016 của Sở Nông nghiệp&PTNT tỉnh Bình Định về việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu các gói thầu số 13-XL/CRSD-BĐ; 14-XL/CRSD-BĐ; 15-XL/CRSD-BĐ.
   Ban Quản lý dự án “Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững” (CRSD) thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định xin báo các đơn vị được biết theo dõi và kiểm tra.
Vị trí dự kiến xây Bến cá Tân Phụng
   Tên công trình: Bến cá Tân Phụng thuộc Dự án “Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững” (CRSD) tỉnh Bình Định.
   - Địa điểm xây dựng:  Xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
   - Diện tích xây dựng: 5510,9 m2
   Tên đơn vị trúng thầu:
   - Gói thầu số 13-XL/CRSD-BĐ: Thi công xây dựng hạng mục công trình giao thông, thủy lợi - Doanh nghiệp Tư nhân xây dựng Hồng Châu. Giá trao hợp đồng là 4.550.838.000 đồng.
   - Gói thầu số 14-XL/CRSD-BĐ: Thi công xây dựng hạng mục công trình hạ tầng kỹ thuật - Công ty TNHH xây dựng Nguyên Tín. Giá trao hợp đồng là 6.405.845.000 đồng.
   - Gói thầu số 15-XL/CRSD-BĐ: Thi công xây dựng hạng mục công trình dân dụng và cung cấp lắp đặt thiết bị -  Công ty TNHH xây dựng Nguyên Tín. Giá trao hợp đồng là 5.459.243.000 đồng.
Xem chi tiết »

Một số vị thần biển

   Ngoài Ông Nam Hải ra thì ngư dân còn tôn thờ và kiên nễ một số vị thần biển như Ông Lược, Ông Sứa, Bà Tím, …
Ông Lược (cá heo)
   Ông Lược là một tướng của Ông Nam Hải nhưng thân hình nhỏ hơn, dài từ 1 đến 3 mét. Đầu tròn, trơn láng, mỏ nhọn, đuôi to xòe ngang như đuôi tôm, lưng đen tuyền, bụng trắng, có vú, cân nặng chừng vài trăm ký. Ngư dân tin ông lược là đệ tử của chư vị Thủy Thần.
   Theo huyền thoại, ông Lược là hậu thân của một thầy sải. Tục truyền ngày xưa có thầy sải một hôm mang một pho kinh đi tặng cho một vị hòa thượng. Khi qua sông, đò chìm, thầy sải lội được lên bờ, soạn lại hành trang thì mới hay pho kinh đã trôi mất. Thầy bèn lội xuống lặn hụp để tìm lại pho kinh, thầy lặn hụp mãi đến kiệt sức và chết chìm, hồn thiêng hóa thành ông Lược, tiếp tục lặn hụp để tìm kiếm pho kinh.
   Ông lược rất hiền lành, không bao giờ phá hại ngư dân mà còn giúp đỡ họ trong khi hành nghề. Mỗi khi thấy ông Lược nổi lên chổ nào, ngư dân cho rằng ông Lược gọi đến để đánh cá, họ liền đến đó để đánh và thường là mực vì mực là thức ăn khoái khẩu của ông Lược. Có lúc hành nghề trong nhiều ngày không được cá mà gặp ông Lược nổi lên cả bầy lội quanh ghe thì ngư dân tin rằng ông Lược cản đường để báo cho biết một nguyên do huyền bí nào đó đã làm cho không đánh được cá (chẵng hạn như xúc phạm đến thần linh hay ghe bị nhơ uế hoặc bị ếm bùa…). Ngư dân liền lễ tạ và trở về rước thầy cúng để giải trừ.
   Ngư dân trong thôn tin rằng có những người biết ếm bùa, phép ếm bùa đó gọi là phép “chấn”, khi ếm thì ghe nghề bị ếm sẽ làm ăn không được. Việc bị ếm có thể do thù vặt như xin cá không cho hoặc mượn tiền không cho… Cách ếm của mỗi người khác nhau và cũng có nhiều cách giải trừ.
   Ngư dân nếu thấy Ông Lược nhảy vọt lên cao, lăn tròn vài vòng rồi rớt ùm xuống nước thì nói là “Ông lược ngứa mình” tức là ra điềm báo trước gió sẽ đổi hướng một cách bất thường. Nếu thấy ông lược lội từng đàn từ hướng bắc về hướng nam thì họ gọi “ông Lược rướt gió” tức là hôm sau sẽ có gió nồm.
   Mặc dù không được tôn kính bằng Ông Nam Hải, nhưng Ông Lược vẫn được ngư dân tôn thờ và kính nể. Khi ông Lược “luỵ” ngư dân cũng tiến hành chôn cất theo đúng cỗ lệ và thỉnh hài cốt vào thờ trong lăng. Hiện trong lăng ông của thôn có nhiều bộ cốt Ông Lược, những bộ cốt này được xếp vào các rương, các rương này lớn nhỏ tuỳ theo kích thước bộ cốt và được đánh dấu “thượng” “hạ” bằng chữ hán ở hai đầu để ngư dân xếp cốt cho phù hợp.

Ông sứa (cá mập voi)
   Một tướng của cá ông, thân hình to lớn, đuôi đứng như đuôi các mập, mắt tròn, đầu lớn, không có lỗ đạo trên đầu như cá ông. Mình có bông, đặc biệt miệng thường hả ra. Theo lời truyền khẩu của ngư dân thì khi xưa ông Sứa cũng được tôn thờ như ông Nam Hải, nhưng một lần phạm tội sát sinh trong khi ăn một đám ruốc gần bờ biển đã vô tình nuốt sống một trẻ nhỏ đang lội xúc ruốc. Vì thế đã bị Ngọc Hoàng giáng chức và trừng phạt phải luôn hả miệng để khỏi tái phạm tội giết người. Do đó mỗi lần ông Sứa ăn mồi một phần vô bụng một phần chạy thoát ra từ mép và hai mang. Ông sứa hiền lành, không hại người, tuy nhiên thỉnh thoảng tung phá rách hết lưới trong khi mê mồi. Tuy không được tôn thờ như ông Nam Hải và ông Lược nhưng ông Sứa vẫn được ngư dân tôn kính và không dám xúc phạm.

Bà Tím
   Bà Tím tức Đệ Bát Thánh Phi Nương Nương hay Công chúa thủy tề là một loài rùa biển lớn, thân hình có nhiều đặc điểm và màu sắc kỳ lạ, có nơi gọi là đồi mồi mỏ đỏ. Con nào trên mai có 13 vảy là loại thường có thể ăn thịt được. Còn bà Tím thì có đặc điểm khác, trên mai có 15 vảy, trong vảy có hình bông mai ẩn hiện, giữa mai nổi lên lên ba sóng khế lớn, hai bên có bốn sóng khế nhỏ, bốn chân hình rẻ quạt, đầu như chim phụng có mồng, mỏ đỏ và nhọn, cổ vàng, hầu đỏ, mắt giống mắt người. Những con lớn thì gọi là bà Tím hoặc bà Tám, còn những con nhỏ thì gọi là cô Tím hoặc cô Tám.
   Theo tín ngưỡng của ngư phủ, mỗi khi vừa ra biển mà gặp bà tím nổi lên trước đầu ghe, nếu ngó về trước là điềm may ngày đó thế nào cũng trúng cá; nếu bà Tím hướng đầu về phía mũi ghe thì là điểm xấu, sẽ không đánh được cá, đó là bà Tím báo cho biết ghe đã bị người khác ếm đối, ghe bị ô uế hoặc có người xúc phạm thần linh vì vậy phải lo cúng kiến giải trừ mới làm ăn được.
   Không một ngư dân nào dám xúc phạm đến bà Tím. Việc cúng kiến bà Tím cũng rất đơn giản, lễ vật là một bộ tam sên (một miếng thịt heo, tôm, trứng vịt luộc) bông chuối và một lốt hình rùa bằng tre dán giấy vẽ màu sắc như thật, cúng xong thả hết xuống biển. Theo như lệ xưa, mỗi khi cúng Bà Tím, ngư dân phải nhờ thầy xem quẻ bằng giò gà để chọn giờ linh ứng, thường thường vào khoảng 4 đến 6 giờ sáng.

Một số loài đẻn
- Mộc Trụ Thần Xà: Là một loại đẻn (rắn biển), dài khoảng 40 phân tức tương đươc với một thước một ngày xưa vì vậy nên ngư dân gọi là Bà Mộc. Bà Mộc có thân hình hơi dẹp, lưng đen, bụng vàng, miệng đỏ, trên đầu có chữ “Nhâm”, đuôi có 3 chấm trắng tròn như mặt trăng.
-  Bà Lạch: cũng là một loại đẻn đầu có mồng và có chữ Nhâm, ít xuất hiện trên mặt biển.
- Ông Hèo: là loại đẻn lớn, mình tròn bằng cổ tay (giống cây hèo để đánh đòn ngày xưa nên gọi là ông Hèo). Màu vàng nhạt, trên mình có lằn đen cách nhau 2 phân, trên đầu có chữ nhâm, là loài có nộc rất độc.
- Bát Bửu Công chúa tức Cô Hồng: là một loài đẻn có nhiều màu sắc, đầu có mồng. 
   Đây là những loại đẻn có nọc rất độc, ai bị cắn thì sẽ chết ngay, không có thuốc nào chửa kịp, ngư dân không dám động đến vì nọc độc và biết tầm thù. Ngư dân không thờ cúng nhưng rất kính nể, không bao giờ xúc phạm vì họ cho rằng Bà Mộc, Ông Hèo, Bà Lạch, Cô Hồng là đệ tử của Bà Tím, những vị đệ tử này có bổn phận thi hành lệnh trừng phạt những ai xúc phạm đến thần linh.
Xem chi tiết »

Hải Đăng Hòn Nước (Hải Đăng Vũng Mới)

   Hải đăng Hòn Nước tọa lạc trên đỉnh Gà Gô thuộc dãy Gò Dưa của thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ với tọa độ địa dư 14o16'8" độ vĩ bắc – 109o10'8" độ kinh đông. Hải đăng có chức năng đánh dấu đường bờ biển huyện Phù Mỹ, giúp tàu thuyền hoạt động trên vùng biển Bình Định xác định vị trí của mình, tránh đá ngầm và xác định hướng đi.
   Từ thời Pháp thuộc, người ta đã cho xây dựng tại đây một ngọn hải đăng với tên gọi Hải đăng Vũng Mới. Theo một số bản đồ vẽ thời pháp thì hải đăng có tên là “Phare de Vung Moi”, một số bản đồ thời Mỹ chỉ để là “light”. Hải đăng Vũng Mới hoạt động trong một thời gian dài, sau đó bị chiến tranh và thiên nhiên hủy hoại trở thành một phế tích. Mãi đến những năm 90 nó mới được xây dựng lại trên nền hải đăng cũ, hoàn thành vào năm 1997 và được đặt tên mới là hải đăng Hòn Nước theo tên của hòn đảo nhỏ gần đó. Hiện nay hải đăng này được quản lý bởi xí nghiệp bảo đảm an toàn hàng hải 201 thuộc công ty bảo đảm an toàn hàng hải II. Trước đây hải đăng có vai trò lớn trong hàng hải và được xem như con mắt giữa trùng khơi, nhưng hiện nay vai trò đó giảm dần do được thay thế bằng những hệ thống định vị hiện đại.
   Khu vực hải đăng là một khuôn viên tương đối bằng phẳng rộng khoảng 800m2 trên đỉnh Gò Gô, gồm một căn nhà và tháp đèn, dưới nền nhà có bể ngầm chứa nước mưa. Ngoài hệ thống máy phát điện bằng Diezel, hải đăng còn lắp đặt hệ thống pin mặt trời cung cấp điện sinh hoạt cho những người gác đèn và thắp sáng hải đăng. Tháp đèn hải đăng là một khối hình trụ tròn, được xây bằng đá có màu xám sẫm, cao 16,2m so với nền đất và cao 62,5m so mặt nước biển. Đèn chính của hải đăng là loại đèn APRB 251 DC, đèn phụ là loại HD300. Đèn phát ra ánh sáng trắng, chớp đơn theo chu kỳ 5 giây với tầm hiệu lực ban ngày là 21 hải lý (tương đương khoảng 39 km), ban đêm là 18 hải lý (tương đương khoảng 34 km). Bên trong Tháp đèn là cầu thang xoắn với nhiều bậc bằng gỗ, giữa thân tháp đèn còn có cửa để lấy ánh sáng. 
   Thời điểm xây dựng hải đăng Hòn Nước vào những năm 90, người ta phải tập kết vật liệu xây dựng ở khu vực tây bắc núi Gò Dưa gần đoạn cuối của suối Dứa. Vật liệu xây dựng được chia thành từng bao để mỗi người vác trên vai đi men theo sườn đông bắc đến địa điểm xây dựng. Nền móng hải đăng và các bể nước ngầm được tận dụng và gia cố lại từ hải đăng cũ. Ngoài ra một số hồ chứa nước nhỏ được xây dựng bên sườn đông làm nơi trung chuyển để lấy nước từ giếng khoan gần biển lên khu vực hải đăng.
   Từ sau khi được hoàn thành năm 1997, hải đăng Hòn Nước trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn của thôn Tân Phụng; thu hút dân trong thôn, trong xã cũng như các xã lân cận vào các dịp lễ, tết. Người ta có thể ra hải đăng bằng xe gắn máy theo đường phía tây núi Gò Dưa hoặc đi bộ ven biển. Khu vực hải đăng có thể cắm trại, tắm biển ở bãi Con, câu cá, khám phá gành đá hùng vĩ và không kém phần nên thơ.
Xem chi tiết »

14/11/15

Bài viết về làng biển Tân Phụng năm 1994

   
Làng Tân Phụng (xã Mỹ Thọ) định vị trên một vùng cát rộng chừng 20 km2, có chiều dài bờ biển chừng 7 cây số, cách trung tâm huyện Phù Mỹ về phía đông gần 20 km đường chim bay. Nói đến Tân Phụng là người ta nghĩ ngay đến thắng cảnh: Mũi Rồng, Bãi Bàn, Đá Dựng – nơi hội tụ của hàng nghìn lượt du khách trong những ngày lễ, ngày tết. Người ta biết đến Tân Phụng còn là căn cứ địa của cách mạng trong hai cuộc kháng chiến gắn liền với những tên gọi: Gò Dựa, Hòn Đụn… đã đi vào lịch sử bằng những trận chiến khốc liệt, được nhà nước công nhận là những địa danh anh hùng.
   Chúng tôi về Tân Phụng khi tiết trời đã chuyển sang đông, từ trụ sở Ủy ban xã Mỹ Thọ, chúng tôi phóng xe xuôi về hướng đối diện với những cồn cát đang phơi mình trong gió nắng, băng qua đoạn đường vừa mới được khai thông. Anh bạn đồng nghiệp ở Đài truyền thanh huyện cùng đi với tôi, có vẻ am hiểu nhiều về tuyến đường ra biển này: “Cậu là người có diễm phúc đấy, lần đầu tiên đến lại đi được bằng phương tiện xe máy trên đoạn đường này… Trước đây, chỉ có một năm thôi, mình đến phải cuốc bộ gần 2 km trên một đụn cát là cát, gian nan lắm”. Sau này chúng tôi mới biết để tạo điều kiện cho việc đi lại dễ dàng thông suốt, nhân dân trong làng đã tự nguyện chung sức chung lòng đầu tư 100 triệu đồng để thi công công trình độc đáo này.
   Chưa đầy 30 phút đồng hồ, chúng tôi đã có mặt tại trung tâm làng. Nhà của đồng chí cán bộ thôn nằm sát ngay mé biển, sóng vỗ vào chân móng ì oạp. Tôi dõi mắt nhìn ra một góc biển nơi có hàng trăm chiếc thuyền của ngư dân đang đậu san sát. Như chợt hiểu ý tôi, anh Nguyễn Bổn, Bí thư Chi bộ nói: “Đấy là thuyền đánh cá của bà con vừa đi xa về cập bến, chuẩn bị chuyển sang Vĩnh Lợi để tìm chỗ trú qua mùa biển động sắp đến!”. Những năm gần đây di chuyển ngư trường đã trở thành thông lệ hàng năm của ngư dân làng Tân Phụng này. Một năm bà con chỉ dừng chân ở biển nhà ba tháng (từ tháng 1, 2 và tháng 3), từ giữa tháng 3 trở đi là họ di chuyển ngư trường vào biển Bình Thuận, Ninh Thuận hay đi Quảng Bình, Hải Phòng, đánh bắt tháng này qua tháng khác. Đến cuối tháng 9 đầu tháng 10 thì tất cả không hẹn lại tìm về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình… Di chuyển ngư trường đã trở thành thông lệ. Thật không đơn giản tí nào đối với ngư dân Tân Phụng cách đây 18 năm về trước bởi lẽ nó gắn liền với điều kiện là vốn liếng, là sức người, sức của - Mà những cái đó bà con quá xa vời.
   Ngày ấy… chiến tranh vừa kết thúc. Tân Phụng còn lại chưa đầy 100 nóc nhà tranh xiêu vẹo, xơ xác vì bom đạn cày xới. Cả làng chỉ trông vào 10 chiếc thuyền có mã lực 10CV hiếm hoi còn sót lại để mưu sinh hàng ngày. 7 năm sau làng mới có tổ hợp nghề cá ra đời nhưng chưa có một tổ hợp nào có thuyền mã lực lớn. Gọi là tổ hợp cho có hình thức chứ mạnh ai nấy làm, vai trò của tổ hợp không giúp ích gì cho những hộ nghèo khó, việc đánh bắt hải sản chỉ quanh quẩn trong ngư trường địa phương. Nạn thiếu ăn đã trở thành vấn đề nóng bỏng. Nhất là những ngày dài nằm chờ đợi cho qua mùa biển động. Có đến trên 50% hộ gia đình phải cầm cự bằng những bát cháo loãng…
    Thế rồi cơn lốc cơ chế thị trường đã vượt qua những cồn cát mang hơi thở mới đến cho bà con. Như một phép màu nhiệm thần kỳ, làng biển Tân Phụng nhanh chóng được hồi sinh. Không có vốn lớn thì bà con liên kết hùng vốn lại với nhau, mạnh dạn mua sắm thuyền có mã lực lớn để di chuyển ngư trường đánh bắt ra xa hơn rồi vươn ra ngư trường của tỉnh bạn. Bắt đầu từ năm 1992, bà con lại sớm may mắn được tiếp nhận nguồn vốn vay từ quỹ quốc gia. 40 triệu/12 hộ, rồi 20 hộ/100 triệu. Nhờ đó chỉ có 5 năm mà số thuyền đánh bắt của thôn đã phát triển lên đến 125 chiếc lớn nhỏ, trong đó thuyền có mã lực từ 30 CV trở lên chiếm 60%, 99% thuyền đều di chuyển ngư trường, sản lượng đánh bắt hàng năm tăng bình quân từ 500 – 1.000 tấn, riêng năm 1993 đạt trên 3.000 tấn tăng gấp 3 lần so với năm 1987. Bình quân mỗi chiếc, sau một tháng di chuyển ngư trường về đạt mức doanh thu gần 200 triệu đồng…
    Đến nay, qua số liệu điều tra gần đây cho thấy, trong tổng số 510 hộ gia đình đã có 30% hộ giàu (hộ có thu nhập bình quân từ 30 – 40 triệu đồng/năm); 40% hộ có đời sống trung bình, 80% ngôi nhà đã được ngói hóa, 70% hộ có cát séc, 30 % hộ có ti vi. Điều đáng nói là Tân Phụng đã có 80% hộ có điện thắp sáng nhưng không phải là dòng điện của Nhà nước truyền tải mà do chính các hộ gia đình ở đây đã tự giác góp vốn để đặt 4 máy phát diezen; đã có hộ gia đình mạnh dạn bỏ ra trên 20 cây vàng làm nhà máy đá để kinh doanh việc đông lạnh thủy hải sản tại chỗ, nhờ đó bà con không còn phải lo âu khi thuyền về đầy ắp cá tiêu thụ không kịp nữa…
   Bây giờ ngồi nghĩ lại những ngày cam go vật lộn với cái ăn cái mặc ấy – anh Bí thư Chi bộ kết thúc cuộc chuyện trò với chúng tôi: - càng thấy ý nghĩa của cuộc sống hôm nay có giá trị biết nhường nào. Mỗi khi đến mùa biển động, thuyền về neo bến không còn cái cảnh húp cháo loãng cầm hơi như trước.
   Buổi chiều nắng đã dịu hẳn, đáp ứng lời đề nghị của tôi, các anh cán bộ ở thôn lại cùng chúng tôi lội ngược lên hướng Mũi Rồng. Từ xa tôi đã nhìn thấy một dãy núi cất mình ra biển, với thế nằm trông không khác gì mũi con Rồng thật mới đẹp và kỳ vĩ làm sao. Lọt vào bên trong Mũi Rồng, tôi có cảm giác như đang ở trong một tòa nhà thiên nhiên lộng lẫy. Nhìn về khơi xa qua cửa hang, mặt biển hiện lên giống như một bức tranh của một họa sĩ trứ danh nào đó… Biển Tân Phụng quả là đẹp thật, và cũng hào phóng biết bao.
Tác giả: Minh Trung (02/12/1994)
Xem chi tiết »

6/11/15

Bánh canh bột gạo nấu chả cá

   
Người ta có thể chia bánh canh ra thành nhiều dạng khác nhau như bánh canh bột gạo, bánh canh bột lọc, bánh canh ngọt,... và bánh canh có thể nấu với tôm, thịt, nấm rơm hay chả cá.
Ở Tân Phụng thì bánh canh bột gạo nấu với chả cá là được ưa chuộng và phổ biến nhất. So với bánh canh bột lọc thì bánh canh bột gạo dể tiêu hóa hơn, còn chả cá là nguyên liệu không hiếm ở Tân Phụng và cũng đỡ ngán hơn thịt. Bánh canh là món ăn sáng, một số người còn dùng để cúng cô bác. Hầu như mỗi xóm trong thôn đều có người bán bánh canh. 
   Cá để làm chả thường là cá Mối hoặc cá Thu. Cá được nạo hết thịt, trộn gia vị rồi đem xay hoặc bỏ vào cối để quết; sau đó có thể vò thành từng viên hoặc từng tấm dẹp rồi bỏ vào chảo dầu nhỏ lửa chiên vừa vàng là được. Gạo được vo sạch và ngâm cho mềm, đem xay thành bột rồi cho vào túi vải đăng cho thật ráo nước. Bóp bột đã ráo nước ra mâm, dùng nước sôi rưới đều lên bột (người ta gọi là sú bột), nhồi bột thật đều tay, sao cho bột sú không được khô cũng không được nhão. Nếu bột sú bị khô thì dễ gãy không xắt thành bánh canh được; còn nếu bột bị nhão, thì bột sẽ chảy cũng không xắt được. Nhồi bột xong bốc thành từng nắm để lên thớt, dùng chai tròn hay ống tre để cán bột ra thành từng miếng mỏng và to cỡ bằng bàn tay. Dùng dao bén xắt miếng bột thành từng sợi nhỏ để khi chín nở ra là vừa. Có người vừa xắt xong là gạt ngay sợi bột vào nồi nước đang sôi và cứ thế xắt rồi gạt cho đến khi hết bột; có người lại xắt sợi hết lượng bột để ra rổ hay thau rồi sau đó mới bỏ vào nồi nước sôi cùng một lượt. Để tránh các sợi bánh canh dính vào nhau người ta rắt thêm một ít bột khô.
   Cách nấu và nêm nếm bánh canh cũng có khác nhau. Có người bỏ sợi bánh canh vào nồi nước sôi rồi mới bỏ chả vào và nêm nếm gia vị cho vừa ăn rồi nhắc xuống. Có người bỏ chả vào nồi nước sôi trước rồi nêm gia vị sau đó mới bỏ sợi bánh canh vào và nêm nếm lại lần nữa rồi nhắc xuống. Nấu cách nào cũng được, tùy theo sở thích từng người. Lúc chín, sợi bánh canh nở ra cùng với những sợi nát sẽ tạo nên độ dẻo của nồi bánh canh. Để nồi bánh canh thật hấp dẫn thì rắt thêm một ít lá hànhKhi bán, người ta múc ra tô, rưới thêm hành ngò, tiêu và dùng muỗng để ăn. Có người thích ăn lúc nóng, sợi bánh canh ít bị nát; có người thích ăn lúc bánh canh nguội dần và nước đặc lại.
Xem chi tiết »

Bánh in

   Bánh in là loại bánh bình dân, thường được làm vào những ngày giỗ, chạp mà đặc biệt là vào dịp tết nguyên đánĐể làm bánh in thì cần bột, đường, nhân bánh và khuôn.
    
Bánh in
Bột bánh in thường là bột nếp, bột đậu xanh hoặc bột năng. Bột là thành phần chính tạo nên hương vị và ảnh hưởng đến độ cứng của bánh. Trước đây người ta phải tự làm bột để đóng bánh in. Nếp phải lựa những hạt vừa cỡ để khi rang không bị hột này chưa chín hột kia đã bị cháy, nếp được vo sạch để cho ráo nước rồi đem rang. Đậu xanh được bóc vỏ, cũng vo sạch để ráo nước trước khi rang. Rang nếp, đậu xanh bằng trã đất hoặc chảo gang trên lửa than đến khi vừa chín vàng là được, nếu cháy quá sẽ tạo mùi khét còn yếu lửa thì khó xay. Sau khi rang xong thì xay bột bằng cối đá và dùng rây để rây bột cho thật mịn, phần bột nào chưa mịn thì đem xay lại. Bột nếp, bột đậu xanh sau khi xay xong thì đem phơi sương và để vài ngày trước khi làm bánh để bột khỏi rốc. Ngày nay các loại bột này được bán sẵn ngoài chợ, riêng bột đậu xanh thì người ta vẫn phải rang đậu nhưng đã có máy xay bột nên đỡ tốn công hơn nhiều.
   Đường bánh in là loại đường vàng hoặc đường cát trắng mịn được giả bằng cối cho nhuyễn rồi trộn trực tiếp với bột để làm bánh. Một số người lại cho đường vào chảo bắc lên bếp, nhỏ lửa để lúc sôi đường khỏi trào ra ngoài. Khi đường sôi - luôn tay quậy đều và nặn vào một vài giọt chanh để không bị lại đường (không có cát). Khi đường nhuyễn người ta nhắc xuống để nguội. Lúc làm bánh ta lấy muỗng nạo dần từ trên xuống. Sau này đã có loại đường dùng riêng để làm bánh in được bày bán sẵn.
   Nhân bánh in phổ biến nhất là nhân mè rang vàng giả nhỏ trộn đường, đây là loại nhân dễ làm và bánh in nhân mè để được lâu nên được nhiều người lựa chọn. Ngoài ra một số người còn làm nhân dừa hoặc nhân đậu xanh. Đậu xanh được bóc vỏ, nấu chín, tán nhuyễn, cho đường vào để trên lửa riu riu đến khi khô đặc thì nhắc xuống rồi vo thành từng viên nhỏNhân dừa cũng được làm giống như nhân đậu xanh, dừa khô được nạo nhỏ bằng dụng cụ nạo dừa hoặc bằng nắp ken (nắp của chai nước ngọt hoặc chai bia).
   
Khuôn bánh in
Khuôn bánh in: Thường thì có hai dạng khuôn là khuôn đúc và khuôn gỗ. Khuôn đúc là khuôn được làm bằng đồng hoặc nhôm có hình tròn hoặc hình vuông. Khuôn đúc gồm phần thân khuôn và các nắp khuôn, một khuôn đúc thường có bốn hoặc sáu nắp, trên các nắp người ta có khắc chữ phúc, chữ thọ hay hình bông mai, bông hồng, bông sen hoặc hình con gà, con trâu...Khuôn gỗ là một thanh gỗ dài, hình chữ nhật trên đó có đục 4 hoặc 5 khuôn nhỏ, những khuôn nhỏ này có thể là hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình trái tim và có khắc các hoa văn nổi.
   Khi làm bánh, có thể trộn bột với đường theo tỷ lệ khác nhau để tạo độ ngọt của bánh khác nhau tùy sở thích, thông thường là 1kg bột với 1kg đường. Người ta dùng chén để lường bột với đường theo tỉ lệ, trộn chung rồi dùng tay bóp cho thật đều. Sau khi chà bột với đường xong thì bắt đầu cho vào khuôn để tạo hình cho bánh. Cho bột vào chừng nửa khuôn rồi cho nhân bánh vào giữa, sau đó thêm một lớp bột lên trên cho đầy khuôn. Dùng tay ấn bột xuống để bột in chặt vào khuôn và tạo độ cứng cho bánh. Với khuôn gỗ thì dùng dao gạt bột cho bằng mặt khuôn, rồi úp khuôn xuống mâm, dùng cán dao hay chày nhỏ gõ đều ở lưng khuôn, các bánh ở trong khuôn sẽ rớt ra. Còn với khuôn đồng hoặc nhôm thì lấy nắp khuôn ấn lên trên, dùng tay ấn nắp khuôn xuống rồi kéo thân khuôn lên để bánh ra khỏi khuônsau đó một tay giữ bánh một tay giở nắp khuôn ra, giai đoạn giở nắp khuôn phải cẩn thận để hoa văn trên mặt bánh không bị hư. Bánh mới làm xong rất dễ bể, phải nhẹ tay khi di chuyển. Đối với bánh in làm bằng bột đậu xanh thì sau khi in bánh xong người ta hong bánh trên một cái mâm đặt trên bếp than nhỏ để tạo độ cứng.
   Bánh in làm xong được bỏ vào thúng, hoặc bầu theo từng lớp rồi đem treo trên trần nhà để tránh kiến và tránh trẻ em vì thèm quá mà lấy ăn.
Xem chi tiết »

Tục thờ cúng Ông Nam Hải

   
Với phần lớn dân số tôn sùng đạo phật và tín ngưỡng đa thần, đồng thời trong quá trình di cư vào nam chịu ảnh hưởng thuật bùa phép, ếm đối của người Chăm nên ngư dân Tân Phụng cũng như các làng ven biển từ miền trung vào nam có những tục lệ thờ cúng rất phức tạp và luôn tin tưởng nhiệt thành. Mặt khác, làm nghề biển cũng có nhiều khó khăn, ngư dân cảm thấy mình nhỏ bé giữa muôn trùng sóng nước. Họ tự trấn an tinh thần bằng cách dựa vào những uy lực huyền bí để được hộ trì trong công việc cũng như đời sống thường ngày. Những vị thần linh mà họ thờ cúng gồm có những vị thần vô hình và hữu hình, trong đó có Ông Nam Hải (cá voi) và Ông Lược (cá heo).
   Cá Ông có tước hiệu “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần” gọi tắt là “Ông Nam Hải”. Với đặc điểm nổi bật là kích thước cơ thể lớn, mắt như mắt thú, đuôi nằm ngang như đuôi tôm, lưng màu đen mun, bụng màu trắng, có lỗ thở (lỗ đạo) trên đầu, lội nhanh và uyển chuyển. Ông Nam Hải là vị thần địa phương chỉ giới hạn ở những làng ven biển, phần lớn ngư dân vùng biển từ Quảng Bình trở vào Hà Tiên là thờ cúng Ông còn các tỉnh ven biển phía Bắc hầu như không thờ, vì vậy mới có câu “tại bắc vi ngư, tại nam vi thần”  (Nghĩa là tại miền bắc là cá còn tại miền nam là thần).
   Theo truyền thuyết của người Chăm, thủa xưa có một nhân vật có thật trong lịch sử của họ đã đến thánh địa Hồi giáo là Mecca để học kinh Koran. Sau khi học xong sẽ về truyền dạy lại cho người Chăm. Tuy nhiên, trên đường về chẳng may bị tai nạn trên biển. Ngài đã hóa thân vào Ikanlimưn (cá voi) để cứu giúp ngư dân vì vậy được người Chăm tôn thờ và tôn danh là Pô-Ri-Yak (Thần Sóng Biển). Ngoài ra, theo một truyền thuyết khác thì người Chăm còn cho rằng Ikanlimưn (cá voi) vốn là hóa thân từ vị thần Cha-aih-va, vì nôn nóng trở về quê hương sau bao ngày rèn luyện phép thuật nên đã cãi lại lời thầy, tự ý biến thành cá voi bơi ra biển để đi nên bị thầy giận và trừng phạt. Sau đó bị các thủy tộc ở biển hành hình, rồi bị hóa thân thành Thiên Nga và một số loài khác, sau cùng hóa thân trở lại làm người rồi đổi tên là Pô-Ri-Yak (Thần Sóng Biển). Từ đó, thần thường hay giúp ngư dân, mỗi khi nghe tiếng kêu cứu thần liền hóa thân thành cá voi bơi đến cứu, do đó thần được tôn thờ tại các làng ven biển của người Chăm.
   Người Việt lại có một truyền thuyết khác về Ông Nam Hải (đó là sự kết hợp giữa văn hóa biển của người Chăm và Phật Giáo Đại Thừa) như sau: Xưa kia Đức Phật Quan Âm trong một lần tuần du Đông Hải, thấy cảnh khó khăn và luôn đối diện với hiểm nguy của ngư dân nên người đã xé chiếc áo Cà Sa thành muôn mảnh thả trôi trên mặt biển và dùng phép biến thành Cá Ông, sau đó lấy bộ xương voi ban cho để có thân hình to lớn và ban phép thuật “thâu đường” lội thật nhanh để Cá Ông làm tròn nhiệm vụ cứu người.
   Trong sử Việt cũng có chép rằng: Khi vua Gia Long thua chạy bằng đường biển trước sự truy đuổi của quân Tây Sơn đã gặp phải một cơn bão, thuyền sắp bị chìm thì được Cá Ông tới cứu. Sau khi thoát nạn và đặc biệt là sau khi đánh bại Tây Sơn, vua Gia Long đã sắc phong tước hiệu cho Cá Ông là “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần” đồng thời có nhiều sắc phong cho các đình làng ven biển thờ Ông Nam Hải. Cũng từ đó vốn dĩ Ông Nam Hải đã được thờ cúng tại các Lăng ven biển từ trước lại càng được tôn thờ hơn.
   Với bản tính hiền lành, không làm hại người, cá Ông là ân nhân của nhiều ngư dân. Giúp đỡ ngư dân đánh được nhiều tôm cá và cứu vớt người trong hoạn nạn. Ông còn có tên gọi khác tùy vào đặc điểm: Ông khơi, Ông lộng, Cậu, Cô... Trước đây, mỗi khi thấy Ông xuất hiện trên mặt nước, ngư dân nghĩ rằng ông đang ăn một bầy cá hoặc một đàn ruốc, liền lái ghe đến gần để đánh lưới và tin rằng sẽ trúng nhiều cá vì Ông sẽ bỏ đi nơi khác để ngư dân đánh lưới. Nhiều người từng được cá Ông cứu sống kể lại rằng trong lúc gặp nạn họ cầu khẩn, van vái thì liền được Ông xuất hiện đưa lưng nâng ghe hoặc để người gặp nạn bám trên lưng mình và từ từ lội vào bờ.
   Để tỏ lòng tôn kính và biết ơn, mỗi khi ông “lị” hoặc “lụy” (chết) thì tất cả ngư dân trong thôn lập tức họp nhau lại để rước xác đem về chôn cất vô cùng trọng thể. Người đầu tiên gặp được xác ông và rước về sẽ được để tang như con chịu tang cha, mẹ. Ngư dân tin rằng khi Ông lị thì có một ông khác kê lưng dìu vào gần bờ và lên vòi nước (dùng lổ thở xịt nước lên cao) để cho ngư dân trông thấy mà rước xác về chôn cất. Cá ông chết luôn nằm ngửa bụng, ngư dân cho rằng ông muốn giữ bộ đồ lòng khỏi bị các loài cá khác ăn. Ngoài ra còn có một cặp cá đao (cá đao là một loài cá lớn có mỏ dài toàn xương cứng và dẹp, hai bên có hai hàng răng bén nhọn, thường ở gần ông nên ngư phủ gọi là tả hữu tướng quân theo phò ông), một cặp tôm và một cặp mực thật lớn là chư vị tướng quân theo phò Ông Nam Hải lúc sống và giữ gìn thi thể khi chết cho đến khi ngư dân rước xác thì mới hết nhiệm vụ.
   Ngư dân trong thôn tiến hành chôn ông tại những bãi cát gần biển hoặc trong khuôn viên lăng nếu là ông nhỏ, còn nếu cá Ông quá lớn thì neo xác dưới nước trong vòng lưới tại chổ êm sóng gần bờ. Những năm sau này, người ta còn dùng xe để kéo xác ông lớn lên chôn trên các bãi cát cho tiện việc thờ cúng và cũng để tỏ lòng tôn kính. Ngư dân trong thôn còn cho rằng xác ông không hôi thúi như cá khác và không bao giờ bị ruồi bu, đồng thời cũng kiêng kỵ những việc nói xấu về xác cá Ông vì sợ ông quở trách. Khi thịt cá Ông đã phân huỷ hết, ngư dân tiến hành hốt trọn bộ cốt giao cho những người lớn tuổi trong thôn tự tay rữa thật sạch bằng rượu trắng, phơi khô, cho vào rương rồi thờ trong lăng. Hiện nay, tại lăng của thôn Tân Phụng thờ rất nhiều bộ cốt ông. Những bộ cốt nhỏ được đặt vào trong rương, ở hai đầu mỗi rương đều được đánh dấu "thượng", "hạ" bằng chữ hán để khi xếp cốt vào không bị lộn. Những bộ cốt lớn không xếp vừa trong rương thì người ta dựng riêng các tủ kính để thờ.
   Bộ xương ông gọi là Ngọc Cốt có màu vàng đục, ửng hồng, cứng chắc, để thờ lâu năm vẫn không hư mục, không hôi thúi và thả xuống nước không bị chìm. Ngư dân tin tưởng ngọc cốt vẫn linh thiên như ông khi còn sống, thỉnh thoảng trong ngày mùa mà không đánh được cá họ làm lễ Rưới ngọc cốt. Họ lấy rượu trắng rưới lên bộ xương cá ông và phơi ngoài nắng (Một số người hứng rượu đó đem về rưới lên giàn lưới để cầu xin được nhiều may mắn. Ngọc cốt còn được ngư dân thỉnh về trị bệnh ban trái hoặc trừ chứng mắc con sát của trẻ con – một chứng bệnh của trẻ con mà người ta tin rằng do quỹ “con sát” bắt).
   
Hàng năm lăng có lệ cúng ông và các lệ cúng khác. Cúng xuân vào khoảng rằm đến 20 tháng giêng; Cúng thu vào khoảng rằm tháng 8 âm lịch; Cúng cầu ngư vào tháng 4 âm lịch. Lễ cúng ông ngày xưa cũng như bây giờ lúc nào cũng trọng thể. Ngư dân trong thôn chung tiền làm lễ và rước đoàn hát bội về trình diễn. Ngày đầu tiên là hát chèo hầu hay còn gọi là hò bá trạo, một buổi hát đặc biệt theo lối hát bội, các kép hát đóng vai các ngư dân đi ghe, các kép này là những ngư dân trong thôn. Kế đó là hát cầu quê, buổi hát cầu quê kéo dài khoảng 1 tiếng đồng hồ và hát những tuồng nói về Quang Công trong chuyện Tam Quốc. Sau đó là những buổi hát chính, các buổi hát chính đoàn hát sẽ diễn các tuồng tích theo các truyện cổ bên tàu. Trong buổi hát các ông lớn tuổi và các đại diện ngư dân ngồi cầm chầu, thưởng tiền bằng cách ném chầu có kẹp sẵng tiền lên sân khấu cho người diễn chụp, nếu thưởng chung thì chỉ ném tiền chứ không ném chầu. Tiền thưởng có thể do từng người bỏ ra hoặc là trích ra từ tổng số tiền của dân đóng góp. Có những năm người ta không ném tiền mà ném thẻ làm bằng tre, mỗi thẻ này được quy ước bằng một số tiền nhất định. Các đào, kép phải cố gắng hát thật hay để nhận được tiền thưởng này. Ngày tết nguyên đán ngư phủ mừng tuổi ông và xin xâm để biết mùa cá trong năm tới sẽ trúng hay thất.
   Vì tôn kính ông nam hải mãnh liệt như vậy nên ngư dân nào gặp được ông lỵ thì phải lo cho trọn nghĩa và tin rằng đó là điều may mắn. Người đầu tiên nhìn thấy xác ông lị được quyền bịt khăn tang màu đỏ và thực hiện tống táng ông theo cổ lệ. Sau 3 ngày làm lễ mở cửa mã, 21 ngày làm lễ cầu siêu, làm tuần 3 tháng 10 ngày, cúng giỗ hàng năm và đến khi làm lễ thượng ngọc cốt thỉnh vào lăng để thờ rồi mới xả tang.
   Trong thời gian thọ tang, người mang tang không dám bê tha rượu chè, hoặc làm những việc bậy bạ xúc phạm đến thần linh. Trong lúc để tang mà làm ăn không khá thì ngư dân cũng không hề phàn nàn vì họ tin tưởng rằng sau khi mãn tang sẽ được ông phù hộ làm ăn phát đạt.
Xem chi tiết »