25/7/16

Hải Đăng Hòn Nước (Hải Đăng Vũng Mới)

   Hải đăng Hòn Nước tọa lạc trên đỉnh Gà Gô thuộc dãy Gò Dưa của thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ với tọa độ địa dư 14o16'8" độ vĩ bắc – 109o10'8" độ kinh đông. Hải đăng có chức năng đánh dấu đường bờ biển huyện Phù Mỹ, giúp tàu thuyền hoạt động trên vùng biển Bình Định xác định vị trí của mình, tránh đá ngầm và xác định hướng đi.
   Từ thời Pháp thuộc, người ta đã cho xây dựng tại đây một ngọn hải đăng với tên gọi Hải đăng Vũng Mới. Theo một số bản đồ vẽ thời pháp thì hải đăng có tên là “Phare de Vung Moi”, một số bản đồ thời Mỹ chỉ để là “light”. Hải đăng Vũng Mới hoạt động trong một thời gian dài, sau đó bị chiến tranh và thiên nhiên hủy hoại trở thành một phế tích. Mãi đến những năm 90 nó mới được xây dựng lại trên nền hải đăng cũ, hoàn thành vào năm 1997 và được đặt tên mới là hải đăng Hòn Nước theo tên của hòn đảo nhỏ gần đó. Hiện nay hải đăng này được quản lý bởi xí nghiệp bảo đảm an toàn hàng hải 201 thuộc công ty bảo đảm an toàn hàng hải II. Trước đây hải đăng có vai trò lớn trong hàng hải và được xem như con mắt giữa trùng khơi, nhưng hiện nay vai trò đó giảm dần do được thay thế bằng những hệ thống định vị hiện đại.
   Khu vực hải đăng là một khuôn viên tương đối bằng phẳng rộng khoảng 800m2 trên đỉnh Gò Gô, gồm một căn nhà và tháp đèn, dưới nền nhà có bể ngầm chứa nước mưa. Ngoài hệ thống máy phát điện bằng Diezel, hải đăng còn lắp đặt hệ thống pin mặt trời cung cấp điện sinh hoạt cho những người gác đèn và thắp sáng hải đăng. Tháp đèn hải đăng là một khối hình trụ tròn, được xây bằng đá có màu xám sẫm, cao 16,2m so với nền đất và cao 62,5m so mặt nước biển. Đèn chính của hải đăng là loại đèn APRB 251 DC, đèn phụ là loại HD300. Đèn phát ra ánh sáng trắng, chớp đơn theo chu kỳ 5 giây với tầm hiệu lực ban ngày là 21 hải lý (tương đương khoảng 39 km), ban đêm là 18 hải lý (tương đương khoảng 34 km). Bên trong Tháp đèn là cầu thang xoắn với nhiều bậc bằng gỗ, giữa thân tháp đèn còn có cửa để lấy ánh sáng. 
   Thời điểm xây dựng hải đăng Hòn Nước vào những năm 90, người ta phải tập kết vật liệu xây dựng ở khu vực tây bắc núi Gò Dưa gần đoạn cuối của suối Dứa. Vật liệu xây dựng được chia thành từng bao để mỗi người vác trên vai đi men theo sườn đông bắc đến địa điểm xây dựng. Nền móng hải đăng và các bể nước ngầm được tận dụng và gia cố lại từ hải đăng cũ. Ngoài ra một số hồ chứa nước nhỏ được xây dựng bên sườn đông làm nơi trung chuyển để lấy nước từ giếng khoan gần biển lên khu vực hải đăng.
   Từ sau khi được hoàn thành năm 1997, hải đăng Hòn Nước trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn của thôn Tân Phụng; thu hút dân trong thôn, trong xã cũng như các xã lân cận vào các dịp lễ, tết. Người ta có thể ra hải đăng bằng xe gắn máy theo đường phía tây núi Gò Dưa hoặc đi bộ ven biển. Khu vực hải đăng có thể cắm trại, tắm biển ở bãi Con, câu cá, khám phá gành đá hùng vĩ và không kém phần nên thơ.
Xem chi tiết »

14/11/15

Bài viết về làng biển Tân Phụng năm 1994

   
Làng Tân Phụng (xã Mỹ Thọ) định vị trên một vùng cát rộng chừng 20 km2, có chiều dài bờ biển chừng 7 cây số, cách trung tâm huyện Phù Mỹ về phía đông gần 20 km đường chim bay. Nói đến Tân Phụng là người ta nghĩ ngay đến thắng cảnh: Mũi Rồng, Bãi Bàn, Đá Dựng – nơi hội tụ của hàng nghìn lượt du khách trong những ngày lễ, ngày tết. Người ta biết đến Tân Phụng còn là căn cứ địa của cách mạng trong hai cuộc kháng chiến gắn liền với những tên gọi: Gò Dựa, Hòn Đụn… đã đi vào lịch sử bằng những trận chiến khốc liệt, được nhà nước công nhận là những địa danh anh hùng.
   Chúng tôi về Tân Phụng khi tiết trời đã chuyển sang đông, từ trụ sở Ủy ban xã Mỹ Thọ, chúng tôi phóng xe xuôi về hướng đối diện với những cồn cát đang phơi mình trong gió nắng, băng qua đoạn đường vừa mới được khai thông. Anh bạn đồng nghiệp ở Đài truyền thanh huyện cùng đi với tôi, có vẻ am hiểu nhiều về tuyến đường ra biển này: “Cậu là người có diễm phúc đấy, lần đầu tiên đến lại đi được bằng phương tiện xe máy trên đoạn đường này… Trước đây, chỉ có một năm thôi, mình đến phải cuốc bộ gần 2 km trên một đụn cát là cát, gian nan lắm”. Sau này chúng tôi mới biết để tạo điều kiện cho việc đi lại dễ dàng thông suốt, nhân dân trong làng đã tự nguyện chung sức chung lòng đầu tư 100 triệu đồng để thi công công trình độc đáo này.
   Chưa đầy 30 phút đồng hồ, chúng tôi đã có mặt tại trung tâm làng. Nhà của đồng chí cán bộ thôn nằm sát ngay mé biển, sóng vỗ vào chân móng ì oạp. Tôi dõi mắt nhìn ra một góc biển nơi có hàng trăm chiếc thuyền của ngư dân đang đậu san sát. Như chợt hiểu ý tôi, anh Nguyễn Bổn, Bí thư Chi bộ nói: “Đấy là thuyền đánh cá của bà con vừa đi xa về cập bến, chuẩn bị chuyển sang Vĩnh Lợi để tìm chỗ trú qua mùa biển động sắp đến!”. Những năm gần đây di chuyển ngư trường đã trở thành thông lệ hàng năm của ngư dân làng Tân Phụng này. Một năm bà con chỉ dừng chân ở biển nhà ba tháng (từ tháng 1, 2 và tháng 3), từ giữa tháng 3 trở đi là họ di chuyển ngư trường vào biển Bình Thuận, Ninh Thuận hay đi Quảng Bình, Hải Phòng, đánh bắt tháng này qua tháng khác. Đến cuối tháng 9 đầu tháng 10 thì tất cả không hẹn lại tìm về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình… Di chuyển ngư trường đã trở thành thông lệ. Thật không đơn giản tí nào đối với ngư dân Tân Phụng cách đây 18 năm về trước bởi lẽ nó gắn liền với điều kiện là vốn liếng, là sức người, sức của - Mà những cái đó bà con quá xa vời.
   Ngày ấy… chiến tranh vừa kết thúc. Tân Phụng còn lại chưa đầy 100 nóc nhà tranh xiêu vẹo, xơ xác vì bom đạn cày xới. Cả làng chỉ trông vào 10 chiếc thuyền có mã lực 10CV hiếm hoi còn sót lại để mưu sinh hàng ngày. 7 năm sau làng mới có tổ hợp nghề cá ra đời nhưng chưa có một tổ hợp nào có thuyền mã lực lớn. Gọi là tổ hợp cho có hình thức chứ mạnh ai nấy làm, vai trò của tổ hợp không giúp ích gì cho những hộ nghèo khó, việc đánh bắt hải sản chỉ quanh quẩn trong ngư trường địa phương. Nạn thiếu ăn đã trở thành vấn đề nóng bỏng. Nhất là những ngày dài nằm chờ đợi cho qua mùa biển động. Có đến trên 50% hộ gia đình phải cầm cự bằng những bát cháo loãng…
    Thế rồi cơn lốc cơ chế thị trường đã vượt qua những cồn cát mang hơi thở mới đến cho bà con. Như một phép màu nhiệm thần kỳ, làng biển Tân Phụng nhanh chóng được hồi sinh. Không có vốn lớn thì bà con liên kết hùng vốn lại với nhau, mạnh dạn mua sắm thuyền có mã lực lớn để di chuyển ngư trường đánh bắt ra xa hơn rồi vươn ra ngư trường của tỉnh bạn. Bắt đầu từ năm 1992, bà con lại sớm may mắn được tiếp nhận nguồn vốn vay từ quỹ quốc gia. 40 triệu/12 hộ, rồi 20 hộ/100 triệu. Nhờ đó chỉ có 5 năm mà số thuyền đánh bắt của thôn đã phát triển lên đến 125 chiếc lớn nhỏ, trong đó thuyền có mã lực từ 30 CV trở lên chiếm 60%, 99% thuyền đều di chuyển ngư trường, sản lượng đánh bắt hàng năm tăng bình quân từ 500 – 1.000 tấn, riêng năm 1993 đạt trên 3.000 tấn tăng gấp 3 lần so với năm 1987. Bình quân mỗi chiếc, sau một tháng di chuyển ngư trường về đạt mức doanh thu gần 200 triệu đồng…
    Đến nay, qua số liệu điều tra gần đây cho thấy, trong tổng số 510 hộ gia đình đã có 30% hộ giàu (hộ có thu nhập bình quân từ 30 – 40 triệu đồng/năm); 40% hộ có đời sống trung bình, 80% ngôi nhà đã được ngói hóa, 70% hộ có cát séc, 30 % hộ có ti vi. Điều đáng nói là Tân Phụng đã có 80% hộ có điện thắp sáng nhưng không phải là dòng điện của Nhà nước truyền tải mà do chính các hộ gia đình ở đây đã tự giác góp vốn để đặt 4 máy phát diezen; đã có hộ gia đình mạnh dạn bỏ ra trên 20 cây vàng làm nhà máy đá để kinh doanh việc đông lạnh thủy hải sản tại chỗ, nhờ đó bà con không còn phải lo âu khi thuyền về đầy ắp cá tiêu thụ không kịp nữa…
   Bây giờ ngồi nghĩ lại những ngày cam go vật lộn với cái ăn cái mặc ấy – anh Bí thư Chi bộ kết thúc cuộc chuyện trò với chúng tôi: - càng thấy ý nghĩa của cuộc sống hôm nay có giá trị biết nhường nào. Mỗi khi đến mùa biển động, thuyền về neo bến không còn cái cảnh húp cháo loãng cầm hơi như trước.
   Buổi chiều nắng đã dịu hẳn, đáp ứng lời đề nghị của tôi, các anh cán bộ ở thôn lại cùng chúng tôi lội ngược lên hướng Mũi Rồng. Từ xa tôi đã nhìn thấy một dãy núi cất mình ra biển, với thế nằm trông không khác gì mũi con Rồng thật mới đẹp và kỳ vĩ làm sao. Lọt vào bên trong Mũi Rồng, tôi có cảm giác như đang ở trong một tòa nhà thiên nhiên lộng lẫy. Nhìn về khơi xa qua cửa hang, mặt biển hiện lên giống như một bức tranh của một họa sĩ trứ danh nào đó… Biển Tân Phụng quả là đẹp thật, và cũng hào phóng biết bao.
Tác giả: Minh Trung (02/12/1994)
Xem chi tiết »

5/11/15

Núi Tân Phụng

Thôn Tân Phụng được hai ngọn núi che chắn đó là núi Cấm ở phía đông và núi Gò Dưa ở phía bắc.
Núi Cấm
Núi nằm phía đông thôn, điểm cao nhất khoảng 142m so với mực nước biển. Núi chạy dọc theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và được bảo vệ trước sự bào mòn của biển nhờ vách đá phía đông. Vách đá phía đông Núi Cấm kéo dài từ Mũi Rồng ra đến Ngõ Đuôi (có thể trước đây vách đá này kéo dài đến Vách Nhất, Vách Nhì, Vách Ba tại vùng biển Bãi Bàng). Phía nam của vách đá này có một đoạn bị đứt gãy tạo thành Mũi Rồng và vết đứt gãy đó tạo nên một tường đá thẳng đứng như một nhát đao chém vì vậy người ta gọi là Đá Chém. Loại đá tạo nên vách đá phía đông núi Cấm khác với loại đá chẻ tại các khu vực khác như núi Gò Dưa, hòn Đụn, hòn Nhàn, hòn Tranh hay Đá Dựng.
Ảnh chụp Núi Cấm - Tân Phụng năm 1967 - Photo by Cliff Richard

   Xưa kia, núi này có tên là Kê Khê Sơn, sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” có đoạn viết về núi này như sau: “Kê khê sơn: Tại đông huyện, nhất danh lạc phụng sơn. Đông chẩm hải tân, cách tân viết Quy tự, Đồn tự. Kỳ bắc hữu Qua Phụ sơn. Tây vi sa chử, nam hữu bạch sa động. Nhất danh núi cửa, giáp Đề Di hải khẩu” tạm dịch là “Núi Kê khê: nằm tại phía đông huyện, còn có một tên gọi khác là núi Lạc Phụng. Phía đông giáp với bờ biển, cách bờ biển có Đảo Quy, Đảo Đồn. Phía bắc có núi Qua Phụ. Phía Tây có bãi cát trắng. Phía nam có động Bạch Sa, còn gọi là Núi Cửa, giáp với cửa biển Đề Di”. Như vậy núi Cấm trước đây còn có một tên nữa là Lạc Phụng Sơn, Lạc Phụng có nghĩa là nơi chim Phụng đậu xuống tức là nơi đất lành. Có thể tên núi Lạc Phụng và thôn Tân Phụng ngày nay là có quan hệ với nhau.
   Ngày nay người ta gọi là núi Cấm, tên này bắt đầu được đặt từ lúc nào thì không ai rõ. Một số người cho rằng để bảo vệ núi nên dân trong thôn đã thống nhất đặt ra lệnh cấm lên núi chặt cây phá núi từ đó mới có tên này. Giai đoạn thập niên 1980, 1990 trong thôn có một đội chuyên đi phạt những người lên núi chặt cây tươi về làm củi. Những năm gần đây việc nấu nướng đã chuyển sang dùng điện, gas là chủ yếu nên nhu tình trạng lên núi chặt củi cũng giảm.
Núi Gò Dưa
   Phía bắc của thôn Tân Phụng là núi Gò Dưa, núi này chạy theo hướng Bắc – Nam. Núi có 3 đỉnh chính, trong đó đỉnh phía nam là cao nhất với chiều cao khoảng 126m so với mực nước biển; đỉnh nằm giữa có chiều cao thấp hơn, trên đỉnh giữa có hòn đá giống hình con heo nên người ta thường gọi là Đá Con Heo; đỉnh phía bắc có tên gọi là đỉnh Gà Gô. Ở sườn phía đông của đỉnh Gò Gô, tại vị trí cách mực nước biển khoảng 50m có một ngọn hải đăng tên là Hải đăng Hòn Nước (hay Hải đăng Vũng Mới). Trước đây núi này có tên là Qua Phụ Sơn (nghĩa Hán - Việt là Gò Dưa). Ngày nay người dân của thôn Tân Phụng làm rẫy, canh tác tại một số khu vực trên sườn núi, khu vực nghĩa địa của thôn nằm dưới chân núi Gò Dưa.
Tuy hai ngọn núi kể trên thấp và nhỏ nhưng lại rất quan trọng đối với thôn Tân Phụng, nó là tấm lá chắn bảo vệ thôn, là cột mốc để những ngư dân xác định hướng đi trên biển ... Đối với tuổi thơ của nhiều người Tân Phụng thì hai ngọn núi này là cả một thế giới cần được khám phá và có nhiều kỷ niệm.

  Hai ngọn núi này từng là căn cứ cách mạng phía đông huyện Phù Mỹ.
Xem chi tiết »