Hò bá trạo là một loại hình nghệ thuật của cư dân vùng biển miền trung và nam Việt Nam. Loại hình này thường được biểu diễn vào dịp lễ hội
cầu ngư để cầu mong mưa hòa gió thuận, quốc thái dân an, làm ăn phát đạt. Dưới đây là bài hò bá trạo của làng
chài Tân Phụng, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
 |
| Một buổi chèo hầu tại Làng Tân Phụng |
Hàng năm, cứ vào ngày 12 tháng 4
âm lịch là nhân dân làng Tân Phụng lại tổ chức lễ hội cầu ngư. Khi đó, hò bá
trạo sẽ được biểu diễn để cầu chúc an lành. Tham gia hò bá trạo gồm 15 thành
viên, trong đó bao gồm: 1 tổng lái, 1 tổng phan, 1 tổng mũi và 12 bạn chèo hầu.
Nội dung của bài hò bá trạo như sau:
- Tổng mũi:
Án nội lễ nghi chỉnh túc
Đình tiền đăng chúc huy hoàng
Truyền bá trạo nghiêm trang
Khép mái chèo, vào bái yết
- Bá trạo đồng thanh: "dạ"
- Tổng mũi:
Xuân lộ thu sương
Thống niệm thanh hương
Hồng cúc nhất viên
Thượng hạ các cung
Truyền bá trạo khai thuyền hầu trạo
- Bá trạo đồng thanh: "dạ".
(Sau đó 12 bạn chèo hầu sẽ di chuyển bằng cách nhảy theo nhịp trống của Tổng mũi để vào lễ bái
trước lăng. Sau khi lễ bái xong bá trạo đứng chèo hầu hai bên như đang chèo
thuyền và trên thuyền 3 ông tổng mới bắt đầu hát).
- Tổng lái: (điệu bạch)
"Chèo thuyền lướt sóng vượt trùng
dương
Biển lặng sóng êm chớ coi thường
Giữa lúc ba đào giông gió tố
Tôn ông phò hộ đắc bình an"
(Xưng tên)
"Như tôi đây trách nhiệm ở
phần sau, tôi vốn là tổng lái."
Chói rạng hai vầng nhật nguyệt
Thâm sâu một dãi hải hà
Ngàn năm dậy tiếng âu ca
Muôn thuở ngàn thu tế độ
Đưa mãnh phát gọi tình báo bổ
Lời trân châu tụng đức cao thâm
Nay các thợ đồng thành kính nhất tâm
Dâng tế lễ cầu ngư hoàn nguyện
Nay đã vũ hòa phong thuận
Lại thêm hải yến hà thanh
Khá cùng nhau chí kính chí thành
Tu sửa đẹp tải ca tải tạo
(giọng nam)
Rập mái chèo cơn dục đòi cơn
Phong phất phất thủy sàng sàng
Buồm giương biển ái, lèo sang mối sầu
Trãi qua mấy dặm ba đào
Nhờ ơn tế độ không nao núng lòng
- Tổng mũi:
Truyền bá trạo đẳng danh
Đồng thanh ca nhất lực, ớ bá trạo
- Bá trạo đồng thanh ca:
Quế trạo hề lang tương
Khinh khinh trạo tí dương
Thiếp thiệp cao sơn lãng
Quân cao chiếu thế quang
Quân cao chiếu thế quang
- Tổng lái: (giọng nam)
Như tôn ông ta giữa sóng giời như cột đá
vững xây
Ba thần thôi cũng phục oai lui về
- Tổng phan: (điệu bạch)
"Anh hùng lao động thật vinh quang
Bủa lưới giăng câu đã sẳng sàng
Lướt sóng khai thuyền ra biển cả
Tôn linh phò hộ đắc bình an"
(Xưng tên)
"Như tôi, đạo tôi con giữ trọn
Nước chưa đầy thì còn được rãnh rang
Khi có nước gầu kia ta tát"
(nam xuân)
"Tát nước cho tròn đạo nghĩa
Sống làm người phải biết lo toan
Ớ bá trạo ơi ráng mà chèo
Chèo cho bỏ trớn giựt lui
Nhờ ơn buồm thuận nước xuôi hội nầy
Dầu cho sóng ngã gió lay chi sờn"
- Tổng mũi:
"Trời cao đất rộng vơi vơi
Ngàn thu ân đức muôn đời oai linh"
- Bá trạo đồng hò:
Ngàn thu ân đức muôn đời oai linh
- Tổng mũi:
Vẫy vùng giữa biển nam minh
Thần long nhượng tiếng hải kình lặng tăm
- Bá trạo đồng hò:
Thần long nhượng tiếng hải kình lặng tăm
Hò hầu oai linh
- Tổng mũi:
Lòng lạnh kể xiết mấy trăm
Nam xây bực nghĩa nước dầm mạch nhơn
- Bá trạo đồng hò:
Nam xây bực nghĩa nước dầm mạch nhơn
Hò hầu oai linh
- Tổng mũi:
Đoài phen động tịnh khuất thân
Có phần võ đức có phần văn công.
- Bá trạo đồng hò:
Có phần võ đức có phần văn công.
Hò hầu oai linh
- Tổng mũi:
Lại thêm trí dũng lạ lùng
Đi ngoài phong vũ đứng trong ba đào.
- Bá trạo đồng hò:
Đi ngoài phong vũ đứng trong ba đào.
- Tổng lái:
Như tôn ông ta hóa thân thủy bá nơi biển cả
Cứu nạn giúp đời lúc hiểm nguy"
(giọng nam)
"Ơn người chất chứa cao dày
Ngàn thu dốc tạc ơn này khắc sâu"
- Tổng phan (Tổng khoan):
"Nhớ khắc sâu muôn đời ghi tạc
Như tôn ông ta đây giữa sóng đời cứu độ
chúng sanh"
- Tổng mũi:
Ngàn thu tạc chử trung trinh
Sắc phong trợ tín chương linh trên đời*
Nguyên là thủy bá trợ người hữu sanh*
Cộng đồng thiên cổ anh linh
Suy trong tam giới rạng danh đức ngài*
Làm tôi thủy phủ cứu người dương gian*
(mỗi dấu * là đoạn bá trạo lập lại câu
cuối và câu "hò hầu oai linh" như ở trên)
- Tổng lái:
"Thuyền khai trực tấn nhất hồi ca
Hải nguyệt thanh phong vạn sự hòa
Phiến quải nhơn cao phong ỷ tống
Ký độ cao ngâm ký thủy lưu"
(giọng nam)
"Ký thủy lưu buồm lang nhè nhẹ
Trãi mấy trùng biển quế đưa sang
Đâu đâu dâu biển thương tang
Tấm thuyền nặng chở ơn vàng nghìn thoi
Càng ngẫm nghĩ lắm mặng mòi
Phòng nguy một thuở, ơn soi muôn trùng"
- Tổng mũi:
"Truyền bá trạo đẳng danh
- Bá trạo đồng thanh:
- Tổng lái: (giọng nam)
"Hộ thâm hoài ai ai cũng có
Nhưng dặn lòng báo bổ cho xong
Thuyền nan nhẹ lướt trường chinh
Dầu cho sóng ngã lương kình xá bao
Chống mũi thấy cảnh thân buồn
Sao giăng đáy bể mưa tuôn đầu gành"
- Tổng phan:
Lúc phong ba dầu chẳng ra tay
Gánh trung nghĩa phải cho biết mặt"
(giọng nam)
"Biết mặt lúc này mới biết
Đứng làm người có việc phải lo
Mặc là tát nước miễn cho thanh bình
Dốc lòng giữ dạ bình sinh
Dầu cho mòi dạt lươn kình xá bao"
- Tổng mũi:
"Trời xanh thật đấng anh linh
Vân yên thủy lặng, lươn kình biến hơi*
Đở thuyền phong mạng giữa giời
Đưa người biển khổ như ngồi đài xuân*
Phong ba đem lại thanh bình mới thôi*
Anh linh bàn bạc giữa giời
Sống thời hiển hiện, thác thời linh thiên*
Nơi nơi phụng sự tâm truyền
Lầu đài trăm thước hương yên một màu*
Thường niên quý tế xuân thu
Trọn tình huỳnh thủy gian nan xá gì*"
(mỗi dấu * là đoạn bá trạo lập lại câu cuối và câu "hò hầu oai linh" như ở trên)
- Tổng lái:
"Nghĩ công đức cao dày bốn biển
Niềm kính tin khắp cả mười phương
Thường song phá lãng trực phong sương
Tiểu trãng hương bình phong nguyệt hạo"
(giọng nam)
"Hạo nguyệt phong lòng đau như cắt
Cảnh mơ hồ một chiếc tòng châu
Ngậm ngùi biển cạn sông sâu
Tay đưa một mái lòng đau chín chiều
Chỉ miền biển thẳm dò theo
Mây tuôn đáy biển gió gieo đầu gành"
- Tổng mũi:
"Truyền trạo tử đẳng danh
- Bá trạo đồng ca:
- Tổng lái: (nam xuân)
"Hải ba bình anh linh phò hộ
Biển dập dồn buồm xổ lái rung
Xa trông gành đá chập chồng
Đoái xem đã thấy mũi rồng đến nơi"
- Tổng phan:
Ớ bá trạo ơi sách có câu rằng:
Thần vô hướng, hương dư hữu đức
Dân vọng hoài hoài vọng chí Nhân
Đã đem thấu đại ân, thời phải lo báo đức"
(giọng nam)
"Báo đức miễn cho trọn nghĩa
Dám khuyên cùng chắn mái cho sâu
Giữ gìn việc nước ai nào lại hơn
Công lao há nại muôn phần
Lòng son gọi chút đáp ân hải hà"
- Tổng mũi:
"Cỏi trời nay đã anh linh
Dọc ngang xong cũng một mình biển khơi*
Tí đầm thẳng tách tới nơi
Bóng linh hiển hiện cho người phùng nghinh*
Xem thôi ai cũng động tình
Gươm cờ rực rỡ lộ trình đón đưa*
Rõ ràng chèo quế kính đưa
Chứa chan giọt lụy ngẫn ngơ tấm lòng*
Huy hoàng hương đốt đèn chong
Lòng trần xin đặng cảm thông thánh thần*"
(mỗi dấu * là đoạn bá trạo lập lại câu cuối và câu "hò hầu oai linh" như ở trên)
- Tổng lái:
"Đoái thấy tây sơn cực lạc
Trực nhìn đông hải tinh sương
Nào, dừng thuyền tạm nghĩ sâm tương
Mai lặng gió sẽ lần qua biển ái
Ớ bá trạo."
- Bá trạo đồng thanh: "dạ" (bá trạo đồng thanh dạ và
ngồi xuống nghỉ)
- Tổng lái: (điệu khách)
"Ớ chú tổng trung khoan
nghe lịnh dặn đây này:"
Tu trấn chỉnh đề phòng bất trắc."
Còn việc củi lửa nghe đây này:
- Tổng phan: (điệu khách)
Tuyết sương phong vũ dám từ nan"
(nói lối)
"Giờ truyền bá trạo đã xong xuôi
ngồi
nói lối chơi vài chặp
Nhưng chẳng biết vì đâu khuất lấp
Cho nên ngư nghệ thất
thường:
Nay bổn vạn tâm thành
cầu khẩn nguyện tôn
linh, bảo độ chúng sanh,
Trương buồm ra hải yến hà thanh,
Bủa lưới xuống tấn tài tấn lợi.
Như tôi đây lao lực thâm canh thiệp thủy
mơ hồ dạ tịnh canh thâm
dòm hai bên bá trạo đã ngủ khấm kho
phan chính giữa
một mình ngồi buồn bực.
Buồn ơi cha chả là buồn
Biết là mưu phân xử thử giai
hay là ta xách cần nọ tới câu ngỏ ngâm bài tuyệt cú.
"Đêm thu vằng vặt bóng trăng thanh
Ngọn gió hiu hiu lặng sóng gành
Sợi chỉ kinh luân giăng biển thánh
Miếng mồi thao lượt thả dòng xanh"
Đêm khuya ngồi câu một mình buồn ơi cha
chả là buồn
hay là ta mượn đôi ba chén rượu để giải buồn vậy
(ngâm)
"Hồng điệp thi đề hải mang mang
Lạc võ nhân gian đệ nhất trường
(nói)
À à tôi nghĩ lại, ngồi buồn câu đôi
con cá,
ngâm mấy câu thơ cho vui cho thú.
Mà tôi nhớ sách có câu rằng:
"công danh phú quý"
mà công danh phú quý ai ơi bất như nhàn.
Câu chưa thẳng đổi mà nước đã ngập đà
Nhảy xuống phan tác nước"
(nói rồi tổng phan lấy gầu vừa tát nước
vừa hát)
(nam xuân)
Tát nước coi chừng giông gió
Cơ hội này có khó mới khôn
Xét soi làm chứng rõ bày sự cơ
Khắp trong bốn biển phụng thờ ngàn thu
(nói) Thuyền nước chi nước dữ ông đà công
ơi
(nam xuân)
Trăm năm nghĩa gắn sơn keo
Dầu cho sóng ngã đâu sờn dạ ta
Thuyền lang nhẹ lách dòng hà
Gay cây chèo quế lướt qua hải hùng
Xa thấy mũi rồng ta nhẹ lướt
dặm đường trường dò trước coi sau
(nói lối)
Trời đà mù mịt, mây kéo lu bù
Từ Phường Mới kéo ra Phường Mét
- Tổng lái:
Vậy chớ trời phát giông mây
ửng hồi nào vậy hử.
- Tổng phan:
Trời phát giông mây ửng hồi
này chớ hồi nào,
hãy nhìn biển cả ba đào chuyển lay.
- Tổng lái:
Nghe qua đã rõ, chớ có diêu
trì.
Ớ chú tổng trung phan nghe lịnh dặn đây này
(điệu khách)
Phú nhữ ân cần, giữ đạo lý
thăng bi trực tấn.
- Tổng phan: (điệu khách)
Khâm thừa hiệu
lệnh, tuyết sương mạo vũ cảm từ nan.
- Tổng lái:
Mau! Bớ chú tổng mau!
Tự thử
phung lôi, tu cấp tiến kinh luân chi thủy
- Tổng phan: (điệu khách)
Dạ dạ phấn ngỏ
ti chi nguyện, hải hồi phấn ngã chi vi.
- Tổng lái:
Mau! Bớ chú tổng mau!
Bi chỉ
hà, gia binh đáo, tương lai gia thảo mộc hiệu hành
- Tổng phan:
Dạ dạ ngô kim vị thức nguyên
đấu thì đế tố cố quanh
- Tổng lái:
Trước ca công đức
Sau chúc thanh bình.
Truyền phát mái sửa sang
Khá gay chèo
đặng mà lên mái nhặt.
Ớ bá trạo
- Bá trạo đồng thanh: "dạ"
- Tổng lái:
Truyền
kéo neo
- Bá trạo đồng thanh: "dạ"
(Bá trạo đứng dậy chèo hầu)
- Tổng mũi:
Nam săn nước chảy
- Bá trạo đồng hò:
Hò khoan hò khoan hởi
hò khoan
(tiếp theo mỗi câu tổng mũi hát thì bá trạo đều đồng thanh “hò khoan hò
khoan hởi hò khoan”)
- Tổng mũi:
Chân kiềm đá đặt.**
(đoạn này hát hai lần)
- Tổng lái:
Nối neo đã lỏng chưa
- Tổng phan:
Dạ đã lỏng rồi
- Tổng lái:
Thế a trước đã lỏng neo, sau
đà xuống bánh.
Truyền bá trạo khá gay chèo đặng mà lên mái một.
Ớ bà trạo
- Bá trạo đồng thanh: "dạ"
- Bá trạo(xốc chèo lên và hò): Hò hậu linh
(bá
trạo xốc mái chèo và đi theo vòng tròn sau đó thu hẹp vòng tròn dần cho đến hết
bài. Sau mỗi câu của tổng mũi bá trạo sẽ đồng thanh “hò hậu linh”)***
- Tổng mũi:
Đình thuyền tạm nghỉ.
(hết)
Bài hát bá trạo kết hợp với các động tác
chèo hầu là nét đặc trưng trong các lễ cầu ngư của cư dân vùng biển miền trung
và nam Việt Nam.
Do trong quá trình thu thập trong tài liệu một số chữ hay một số câu không rõ
nên khó tránh khỏi sai sót.